Skip to content Skip to sidebar Skip to footer

Cà phê Arabica, hay còn được gọi là cà phê Chè. Là một trong những giống đầu tiên được trồng. Chiếm vị trí chủ đạo trong cơ cấu ngành cà phê trên thế giới, cung ứng cho khoảng 70% sản lượng toàn cầu.

Nguồn gốc của cà phê Arabica

Các khu rừng cao nguyên của Ethiopia và Nam Sudan được coi là cái nôi của cà phê Arabica. Các loài Arabica hiện tại có nguồn gốc từ những cây dại trong rừng nguyên sinh tại đây. Sự phổ biến cà phê Arabica bắt nguồn từ việc cây cà phê được du nhập vào Yemen. Sau đó được người Ả Rập gieo trồng cho đến cuối thế kỷ 14. Arabica tiếp tục mở rộng ở các nước xa như Ấn Độ, Sri Lanka, Java và Indonesia, Hà Lan,…và lan rộng toàn thế giới

Arabica tại Việt Nam

Tại Việt Nam, Arabica chủ yếu được trồng ở Lâm Đồng, Thừa Thiên Huế, Quảng Trị, Nghệ An, Hòa Bình, Sơn La, Điện Biên,… Đặc biệt ở Cầu Đất, nơi được coi là thiên đường cà phê Arabica với những “chỉ số vàng”, cao 1.500 m, khí hậu ôn đới, mát mẻ quanh năm. Đây là vùng sản xuất cà phê Arabica chất lượng cao nhất cả nước. Một nhánh của Arabica là Arabica Bourbon sở hữu hương vị sánh ngang với cà phê ngon nhất thế giới.

Đặc điểm và hương vị

Dòng cà phê này có lá nhỏ, cây cao và có vẻ ngoài khá giống cây chè. Quả cà phê có hình bầu dục, mỗi quả có hai nhân, hạt to hơn hạt của cà phê Robusta.

Vị chua thanh xen lẫn với đắng nhẹ, nước có màu hổ phách, nâu nhạt. Hương thơm thanh tao, có mùi si-rô xen lẫn mùi của mật ong và hoa trái đầu mùa… Arabica chinh phục dân chuyên cà phê nhất trên thế giới. Cà phê Arabica là nguyên liệu chính của các thương hiệu cà phê nổi tiếng khuyên dùng. Bạn có thể thật sự nếm được “hậu vị” của cà phê. Nhưng không phải là vị chua, mà chuyển từ chua sang đắng.

Phân loại các loại hạt cà phê Arabica

Hiện tại ở Việt Nam, đang có các loại hạt cà phê như sau

Typica

Cà phê Typica là loại thuộc chi Arabica, thuộc giống cà phê Arabica thuần chủng. Typica cũng là giống cà phê lâu đời nhất trên thế giới. Lá của chúng thường có màu vàng đồng. Hạt Typica hình bầu dục, kích thước khá nhỏ.

  • So với cây Bourbon, cây Typica có hạt dài hơn, bắt mắt hơn và sản lượng cà phê ít hơn khoảng 20 – 30%
  • Arabica Typica có hương thơm ngây ngất, đó là một hương thơm khác biệt cực kỳ sang trọng thường liên tưởng đến hương vị hoa quả, socola. Về vị Typica mang vị chua nổi trội, có chút đắng dịu và mang hậu vị ngọt.

→ Đối với dân chuyên cà phê, Typica là tiêu chuẩn cho mọi thang đo về chất lượng cà phê. Vì khó trồng bởi sức chống chịu sâu bệnh rất kém. Arabica hòi điều kiện khí hậu và thổ nhưỡng phải cực kỳ thuận lợi nên giá bán cà phê Typica thường khá cao.

Bourbon

  • Bourbon là một biến thế tự nhiên của Typica. Là một trong những giống cà phê có ý nghĩa quan trọng về mặt văn hóa và di truyền của thế giới. Bourbon năng suất cao hơn Typica. Trái cà phê chín thường có màu đỏ, vàng, cam,… đẹp mắt hơn rất nhiều so với những loại hạt cà phê khác.
  • Bourbon vẫn là một giống phổ biến với cả những người trồng cà phê và người yêu thích thưởng thức cà phê. Bởi vì sự ngọt ngào, sự nhẹ nhàng, chua thanh dễ chịu với đa dạng các tầng hương như vanilla, caramel, táo, lê, gỗ sồi, tuyết tùng, mạch nha… Chính bởi vậy mà hương vị của Bourbon được đánh giá là tinh tế và khác biệt, có thể dẫn đầu trong thế giới cà phê.

Mocha

  • Ở Việt Nam, cây cà phê Mocha được trồng rất ít, chủ yếu tập trung ở vùng Cầu Đất (Lâm Đồng). Với lượng mưa nhiều, độ cao phù hợp và đặc biệt là đất đỏ bazan,
  • Mocha ở đây có vị chua của trái cây, kết hợp vị đắng nhẹ nhàng, không quá gắt, vị béo vừa phải mang đến một tuyệt phẩm mà bất kỳ tín đồ cà phê nào cũng đều phải siêu lòng.
  • Thân cây có màu xám nhạt và có phần èo uột hơn so với các giống khác do mang nhiều đặc tính khó chăm. Khi bắt đầu chín, quả Mocha chuyển từ màu xanh lá nhạt sang màu đỏ cà chua hoặc đỏ đậm. So với những hạt cà phê khác, hạt Mocha tròn và nhỏ, chứ không dài và dẹt.

Catimor

  • Catimor chính là “người em út” trong gia đình Arabica và cũng là giống cà phê có sức sống mạnh mẽ nhất. Những quả cà phê chè nhanh chín và cho năng suất cao hơn so với các loại cà phê thông thường.
  • Cà phê Catimor có hàm lượng cafein thấp, chỉ khoảng từ 1 đến 2%. Mùi vị đắng gắt hoà với sự nhẹ nhàng, quyến rũ, nồng nàn không thể lẫn vào đâu được. Loại cà phê này còn có vị hơi chua, dư vị đọng lại trong cà phê vô cùng nồng nàn, có chiều sâu, tạo cảm giác thú vị khó quên.

⇒ Ngoài ra, để biết chi tiết các giống con của Typica, Bourbon, Mocha và Catimor. Hãy đọc thêm bài viết này.

So sánh Arabica với Robusta

Arabica chứa lipit và nồng độ đường gần gấp đôi so với Robusta. Điều này cho phép Arabica tạo ra một cốc cafe giàu hương vị và kết cấu phức tạp hơn so với Robusta.

Robusta thì lại chứa gấp đôi Caffeine và CGA so với Arabica, vì thế hạt cà phê Robusta sẽ đắng hơn với Arabcia.

Cách phối trộn cà phê Robusta và Arabica

Dựa vào các đặc điểm về hương vị riêng của 2 loại cà phê “quốc dân” Robusta và Arabica. Các chuyên gia về cà phê đã phối trộn và cho ra các công thức tận dụng tối đa vị ngon của từng loại cà phê như sau.

– Tỷ lệ 70% Arabica : 30% Robusta thì cà phê sẽ có vị cân bằng, đắng dịu, hậu vị chua thanh.

– Tỷ lệ 70% Robusta : 30% Arabica thì hương vị cà phê đắng vừa và vị chua nhẹ.

– Tỷ lệ 80% Arabica : 20% Robusta thiên về vị chua thanh, đắng nhẹ.

– Với tỷ lệ 30% Arabica : 40% Robusta : 30% cà phê trung hòa thì vị cà phê sẽ đậm đà, hòa quyện và mới lạ.

⇒ An Viên là đơn vị cung cấp các sản phẩm của sự kết hợp hoàn hảo giữa Arabica và Robusta với sự cân bằng về vị giác cũng như hương vị.